KHẠC RA MÁU image

KHẠC RA MÁU

Bệnh nhân nữ, 70 tuổi, Tiền sử có bệnh tim thiếu máu cục bộ, đã đặt stent mạch vành và đang duy trì thuốc kháng kết tập tiểu cầu kép ổn định # 2 năm. Nhập viện vì khạc ra máu, trước đó 2 tuần, người bệnh có ghi nhân các chấm xuất huyết rải rác ở hai chân. Khám lâm sàng ghi nhận bệnh nhân sinh hiệu ổn, da niêm hồng nhạt chấm xuất huyết rải rác 2 chi dưới. Xét nghiệm Tổng phân tích tế bào máu ghi nhận: Hgb: 8,6g/dL, PLT 19k/uL, WBC: 5,24 (Neutro 2,75k/uL). Bệnh nhân được chỉ định làm tuỷ đồ với kết quả được mô tả như sau:  Không thấy hạt tuỷ. Mẫu tiểu cầu khoảng 10 tế bào trên lam, kích thước nhỏ, chia nhiều múi. Dòng hồng cầu: tăng, chủ yếu E.poly-acidophile, mốt số có 2 nhân, có sự trưởng thành không đồng đều giữa nhân và nguyên sinh chất. Dòng bạch cầu hạt: ưu thế Myelocyte-Metamyelocyte, SN một số kém chia múi. Tỷ lệ blast khoảng 3%. Không gặp tế bào lạ. Lam máu: HC aniso, poikilocytosis. Tiểu cầu giảm. BC chủ yếu Neutro và Lymphocyte, Vài tế bào non khoảng 2%.

Chẩn đoán phù hợp là:








CÔNG THỨC MÁU BẤT THƯỜNG image

CÔNG THỨC MÁU BẤT THƯỜNG

Bệnh nhân nam, 51 tuổi, nghề nghiệp: kế toán, nhập viện vì phát hiện xét nghiệm công thức máu bất thường khi đi khám bệnh. Bệnh sử: Bệnh nhân 2-3 tháng nay thường cảm thấy mệt mỏi, đi lại nhiều thấy khó thở nhẹ. Ăn uống kém, sụt cân khoảng 6 kg (66 -> 60kg) trong thời gian qua, không vã mồ hôi đêm, không sốt. Bệnh nhân đi khám sức khỏe định kì, thấy công thức máu bất thường nên đến khám bệnh tại bệnh viện chuyên khoa Huyết học.

Lâm sàng: BN tỉnh, tiếp xúc tốt, thể trạng tốt ECOG 1 điểm. Niêm nhạt. Không ghi nhận xuất huyết da niêm. Giảm âm ½ dưới phổi (T). Lách to độ IV. Nhiều hạch cổ, nách, bẹn 2 bên, kích thước khoảng 1 – 2 cm, mật độ chắc, giới hạn rõ, ấn không đau. Các cơ quan khác chưa ghi nhận bất thường.

Cận lâm sàng: Công thức máu Hb: 10.0 g/dl, MCV: 83 fl, MCH: 26.0 pg; Tiểu cầu: 131 K/µl; Bạch cầu: 30.27 K/µl; Neutrophil: 5.73; Lymphocyte: 19.87; Monocyte: 4.05; Eosinophil: 0.1; Basophil 0.1 (K/µl).


Nguyên nhân gây thiếu máu ở bệnh nhân trên nghĩ nhiều nhất là do:








ĐỘT NGỘT ĐAU NGỰC TRÁI image

ĐỘT NGỘT ĐAU NGỰC TRÁI

Bệnh nhân nam, 59 tuổi nhập viện vì đau ngực. Cách nhập viện 8 giờ, bệnh nhân đột ngột đau ngực trái, đau ngực kiểu cảm giác đè ép, liên tục, cường độ vừa, cơn đau ngực xuất hiện khi bệnh nhân đang ngủ, đau ngực không lan, kèm cảm giác khó thở và vã mồ hôi nhiều, không yếu tố tăng giảm. Sau đó bệnh nhân nhập viện với kết quả troponin T hs ghi nhận 2 mẫu: (mẫu 1): 45102, (mẫu 2 sau đó 1 giờ): >10,000 ng/L. Điện tâm đồ lúc nhập viện của bệnh nhân như sau, hãy đọc điện tâm đồ:








COVID-19 MỨC ĐỘ NẶNG image
COVID-19 MỨC ĐỘ NẶNG image

COVID-19 MỨC ĐỘ NẶNG

Bệnh nhân nam, 62 tuổi, nhập viện vì khó thở, được chẩn đoán COVID-19 mức độ nặng. Bệnh nhân được điều trị Corticoid, kháng virus, Heparin trọng lượng phân tử thấp liều dự phòng. Sau 7 ngày, bệnh nhân thấy khó thở tăng dần, được chụp CT ngực có cản quang phát hiện tổn thương nhu mô phổi lan tỏa 2 bên, kèm hình ảnh nghi ngờ thuyên tắc nhiều nhánh mạch máu phổi. Đồng thời, xét nghiệm thấy tiểu cầu bệnh nhân giảm còn 12 G/L.

Cần làm thêm xét nghiệm gì để chẩn đoán?








THUYÊN TẮC PHỔI image

THUYÊN TẮC PHỔI

Bệnh nhân nam 47 tuổi đã được chẩn đoán nhồi máu cơ tim cũ, tăng huyết áp, nhập viện với tình trạng khó thở. Bệnh nhân khó thở và nặng ngực 1 tuần nay, tình trạng khó thở và nặng ngực ngày càng tăng dần khiến bệnh nhân khó chịu nên đi khám và nhập bệnh viện tuyến dưới để điều trị, với kết quả chẩn đoán là thuyên tắc phổi. Tuy nhiên tình trạng khó thở và nặng ngực không cải thiện nên bệnh nhân được chuyển lên bệnh viện tuyến trên. Tình trạng lúc nhập viện: Bệnh nhân tỉnh, bứt rứt, thở co kéo, huyết áp 100/60 mmHg, thở 26 lần/phút, SpO2: 93% (đang thở oxy mask đơn giản 10 L/ph). Da niêm hồng, chi mát, không dấu xuất huyết dưới da. Tim đều, tần số 110 lần/phút, không âm thổi; phổi trong, không ran; bụng mềm, không sờ chạm thấy gan lách. Các cơ quan khác không ghi nhận bất thường. Kết quả CT-Scan động mạch phổi như hình bên dưới. ECG ghi nhận hình ảnh S1Q3T3, siêu âm tim ghi nhận: giãn thất phải, TAPSE 8mmHg, huyết khối buồng thất phải, hở van 3 lá, PAPs 80mmHg. Bệnh nhân diễn tiến ngưng tim sau nhập viện 30 phút, không đạt ROSC sau 15 phút hồi sức. Trong các điều trị dưới đây, đâu là chiến lược điều trị phù hợp nhất ở bệnh nhân này: