VIÊM ĐẠI TRÀNG GIẢ MẠC
Bệnh nhân nữ, 83 tuổi, nhập viện vì tiêu chảy. Bệnh 2 ngày với biểu hiện sốt không rõ nhiệt độ, đau quặn bụng vùng quanh rốn, tiêu lỏng 6 – 7 lần/ngày, kèm nhầy, không máu. Bệnh nhân có tiền căn sử dụng amoxicillin/clavulanate cách nhập viện 2 tuần. Xét nghiệm máu tại thời điểm nhập viện ghi nhận bạch cầu 27.6 x 109/L (Neutrophil 91.1%). Kết quả nội soi đại tràng ghi nhận niêm mạc trực tràng – đại tràng xích ma sung huyết, có giả mạc vàng bám trên bề mặt niêm mạc.
Lựa chọn điều trị phù hợp trên bệnh nhân này
TRIỆU CHỨNG NHIỄM ĐỘC GIÁP
Bệnh nhân nữ, 40 tuổi, đến khám vì triệu chứng nhiễm độc giáp (run tay, hồi hộp, sụt cân, tiêu lỏng) kéo dài 3 năm, không đáp ứng hoàn toàn với thuốc kháng giáp. Xét nghiệm chức năng tuyến giáp ghi nhận: TSH 3.30 mUI/l (0.27-4.94), fT4 2.90 ng/dl (0.7-1.76). Hình ảnh học MRI tuyến yên như hình bên. Chẩn đoán và phương pháp điều trị phù hợp nhất ở bệnh nhân này là:
VIÊM TỤY CẤP DO SỎI MẬT
Bệnh nhân nam, 68 tuổi nhập viện vì đau thượng vị giờ thứ 10. Cơn đau khởi phát đột ngột vùng thượng vị lan khắp bụng, đau âm ỉ liên tục, không yếu tố giảm đau, nôn ói nhiều lần, nôn ra ít dịch trong, không nôn ra máu, sau nôn không giảm đau. Trong quá trình bệnh, bệnh nhân không sốt, không khó thở, không đau ngực, trung tiện được, tiểu vàng trong, không gắt buốt. Tiền căn ghi nhận bệnh nhân bị tăng huyết áp trên 5 năm, không đi khám định kì, tự mua thuốc uống hàng ngày. Không ghi nhận tiền căn viêm tụy, bệnh lý sỏi mật, cơn đau quặn mật trước đây. Chưa ghi nhận tiền căn đái tháo đường, viêm gan vi rút B, C, viêm loét dạ dày – tá tràng. Tình trạng bệnh nhân tại thời điểm nhập khoa cấp cứu: bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt, da niêm hồng. Mạch 86 lần/phút; Huyết áp 140/70mmHg; Nhiệt độ 37,50 C; Nhịp thở 19 lần/phút; BMI 26 kg/m2 . Cận lâm sàng: Amylase 1703 UI/L; CRP 5,42 mg/l; WBC 24,84g/l; NEU 77,6%; Bilirubin toàn phần 79,43 umol/l; Bilirubin trực tiếp 41,31 umol/l. CT-scan bụng có cản quang: Túi mật thành không dày, lòng không thấy sỏi cản quang, lòng có cặn bùn. Dãn nhẹ đường mật trong gan, ống mật chủ dãn 11mm. Tụy phù nề nhẹ, bắt thuốc tương phản đồng nhất, thâm nhiễm mỡ và tụ dịch quanh tụy.
Chỉ định dùng kháng sinh trong trường hợp này là do:
CƠN MỆT
Bệnh nhân nữ 32 tuổi, vào viện vì lên cơn mệt. Bệnh sử 1 năm.
1 năm trước nhập viện, BN thỉnh thoảng xuất hiện đột ngột những cơn mệt, trong cơn có hồi hộp, đánh trống ngực, tim đập nhanh, khó thở, thở hụt hơi, choáng váng, buồn nôn, tê đầu ngón tay chân kèm cảm giác lạnh toàn thân, trong cơn BN cảm thấy sợ chết, lo lắng hoảng loạn, sợ mình bị đột quỵ, cơn kéo dài 15-20 phút, mức độ nhẹ. Ngoài ra BN thường xuyên đau khắp đầu, lan vùng vai gay trái, đau không có tiếng mạch đập, không kèm nôn, buồn nôn, không sợ ánh sáng hay tiếng ồn. BN đi khám được chụp MRI sọ não có gado không ghi nhận bất thường, chẩn đoán Đau đầu căng cơ điều trị 1 năm bằng thuốc không rõ loại thì có cải thiện cơn mệt nhưng vẫn đau đầu.
2 tuần nay: BN xuất hiện cơn mệt với tính chất tương tự, kéo dài 30-45 phút tự hết, 2-3 cơn/ngày và mức độ nặng hơn làm BN phải ngừng việc đang làm hiện tại, ảnh hưởng hiệu suất công việc. kèm mất ngủ toàn hôm, đêm ngủ chỉ 3-4h, không sâu giấc.
Sáng ngày nhập viện, cơn mệt tương tự xuất hiện, kèm mất ngủ, đau đầu nhiều ? nhập khoa cấp cứu BV Nguyễn Tri Phương.
Tiền sử: chưa từng phát hiện bệnh lí nội ngoại khoa nào, không có tiền sử dung chất, bia rượu thuốc lá.
Tại phòng cấp cứu:
- Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt.
- Sinh hiệu: mạch: 84 lần/phút; nhịp thở 20 lần/phút; HA: 120/70 mmHg; Nhiệt độ: 37oC, SpO2=99%.
- Da niêm hồng.
- Chi ấm, mạch rõ.
- Tuyến giáp không to
Chẩn đoán nào cần nghĩ đến trên BN này TRƯỚC TIÊN tại phòng cấp cứu:
CO THẮT TÂM VỊ
Bệnh nhân nữ, 22 tuổi, đến khám với triệu chứng “trào ngược”. Sáu tháng nay, bệnh nhân nuốt nghẹn, đặc biệt khi bệnh nhân ăn cơm thì phải uống nước để dễ nuốt và khi uống nước nhiều quá thì cơm bị “trào ngược” ra miệng. Nuốt nghẹn tăng dần, lúc đầu nuốt nghẹn với cơm, sau đó nuốt nghẹn với cháo. Không ghi nhận ợ nóng, nuốt đau, sụt cân, nôn ra máu, hay tiêu phân đen. Nội soi thực quản – dạ dày – tá tràng ghi nhận thực quản dãn, có ít dịch trong thực quản, tâm vị tăng co thắt, khó qua máy lần đầu. Xquang dạ dày cản quang ghi nhận hình ảnh “mỏ chim”. Bệnh nhân được chẩn đoán co thắt tâm vị.
Lựa chọn điều trị phù hợp trên bệnh nhân này.







